Tiêu hoá: Hệ tiêu hoá và dạ dày

Thách Thức trong Chẩn Đoán Phân Biệt Bệnh Crohn, Lao Ruột và Behcet tại Việt Nam và Châu Á

Medifly-thach-thuc-trong-chan-doan-phan-biet-benh-crohn-lao-ruot-va-behcet-tai-viet-nam-va-chau-a

Thách thức lâm sàng lớn hiện nay liên quan đến chẩn đoán chính xác bệnh viêm ruột (IBD) ở các nước châu Á nơi có tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng đường ruột cao. Làm sao để chẩn đoán phân biệt bệnh Crohn, lao ruột và bệnh Behcet là một khó khăn trong thực tế lâm sàng.

Chẩn đoán bệnh Crohn trong bối cảnh các khu vực địa lý nơi bệnh lao có tỉ lệ mắc cao (lao tiềm ẩn và lao hoạt động) đặt ra một thách thức chẩn đoán chính xác cho bệnh viêm ruột.

Nhiễm trùng có thể giống với bệnh giả viêm ruột  IBD và làm phức tạp quá trình chẩn đoán đúng bệnh IBD hiện có.

Trong bối cảnh hạn chế của các phương thức chẩn đoán và dịch vụ y tế có thể làm cho việc chẩn đoán đúng bệnh bị chậm lại. Với cách tiếp cận liên chuyên khoa, đào tạo y khoa liên tục và các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu có thể đảm bảo chẩn đoán chính xác về IBD.

Hiện trạng bệnh viêm ruột (IBD) tại châu Á

Ở châu Á, tỷ lệ mắc và tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột (IBD) ngày càng tăng đã được chứng kiến. Trong hơn 1 thập kỷ, đã có sự gia tăng đều đặn về tỷ lệ mắc trung bình hàng năm của bệnh Crohn (CD) và viêm loét đại tràng ở một quận của Seoul tương ứng từ 0,05 và 0,34 lên 1,34 và 3,08 trên 100.000 dân [1] .

Gần đây, tỷ lệ mắc IBD ở Trung Quốc đại lục ở các nhóm dân số được báo cáo lần lượt là 1.77, 1.96 và 3.14 tại Đại Khánh (Bắc Trung Quốc), Vũ Hán và Quảng Châu (Nam Trung Quốc) [2-4]. Tỷ lệ mắc IBD ở Hồng Kông, Trung Quốc, đã tăng gấp ba lần trong thập kỷ qua. Từ kết quả của nghiên cứu dịch tễ học về viêm đại tràng & bệnh Crohn châu Á-Thái Bình Dương (AC-CESS), tỷ lệ mắc IBD hàng năm thô là 1.37 trên 100.000 cá nhân ở châu Á và Trung Quốc có tỷ lệ mắc cao nhất trong số 8 quốc gia ở châu Á (3.44 trên 100.000 cá nhân) [5].

Do tỷ lệ mắc IBD ở châu Á ngày càng tăng và tỷ lệ nhiễm trùng đường ruột cao ở hầu hết các nước châu Á, cũng như không có tiêu chuẩn vàng chẩn đoán, các bác sĩ đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong chẩn đoán và quản lý hơn các nước phương Tây. Bài viêt này nhằm mục đích phác thảo các bệnh có thể giống với IBD và sự đa dạng về chất lượng chẩn đoán cho IBD ở Châu Á.

Bệnh giống viêm ruột IBD (giả viêm ruột IBD)

Lao ruột (ITB)

Chẩn đoán bệnh Crohn (CD) ở các khu vực địa lý nơi bệnh lao (TB) thường gặp là một thách thức chẩn đoán thực sự.

Bệnh Crohn (CD) và lao đường ruột (ITB) đều là những rối loạn u hạt mạn tính với các kết quả lâm sàng, bệnh lý, hình ảnh x-quang và  nội soi chồng chéo. Sự giống nhau của hai loại bệnh này trong các biểu hiện lâm sàng cũng như sự thiếu vắng của cả hai dấu ấn sinh học cụ thể và đủ nhạy trong xét nghiệm có thể giải thích tỷ lệ chẩn đoán sai cao, dao động từ 50% đến 70% [6].

Chẩn đoán sai và điều trị tiếp theo có thể dẫn đến hậu quả không mong muốn. Để chấm dứt vấn đề này, nhiều nghiên cứu lâm sàng đã nghiên cứu vai trò của diễn giải lâm sàng, nội soi đại tràng, mô bệnh học, xét nghiệm giải phóng interferon-gamma (IGRA), phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để phát hiện ra vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis và hệ thống thang điểm toàn diện trong phân biệt bệnh lao ruột  (ITB) và bệnh Crohn (CD).

a-Bệnh Crohn (CD), b-Lao Ruột (ITB), c-Bệnh Behcet (BD) và d-Viêm đại tràng sán máng mạn tính

Hình 1. a-Bệnh Crohn (CD), b-Lao Ruột (ITB), c-Bệnh Behcet (BD) và d-Viêm đại tràng sán máng mạn tính

  1. Một vết loét dọc điển hình ở bệnh nhân bị bệnh Crohn (CD).
  2. Vết loét ngang điển hình ở bệnh nhân mắc lao ruột (ITB).
  3. Vết loét tròn, đơn, loét lớn ở vùng hồi tràng ở bệnh nhân bị bệnh Behçet (BD).
  4. Viêm đại tràng sán máng mạn tính được xác nhận bởi mô học sinh thiết.

Nội soi đại tràng có thể là một kiểm tra hữu ích nhưng dựa trên kinh nghiệm và chủ quan để chẩn đoán phân biệt.

Một nghiên cứu từ Hàn Quốc năm 2006 đã báo cáo rằng chẩn đoán lao ruột ITB hoặc bệnh Crohn CD bằng nội soi đại tràng sẽ được thực hiện chính xác ở 87,5% bệnh nhân (77/88), không chính xác ở 8,0% bệnh nhân (7/88) và không xác định ở 4,5% bệnh nhân (4/88) [7].

Một nghiên cứu của Trung Quốc bao gồm 122 trường hợp lao ruột ITB và 130 trường hợp bệnh Crohn CD, đã phát triển phương trình toán học hồi quy theo các thông số nội soi như fol-low: liên quan trực tràng, loét dọc, loét ngang, loét giống như gặm nhấm, hình ảnh đá cuội và cố định-mở van hồi tràng (hình 1a, b) [8].

Ở một mức độ nào đó, các đặc điểm nội soi được xác định kém và mang tính chủ quan của người thực hành lâm sàng. Ngoài ra, những bệnh nhân có hình ảnh nội soi không điển hình lại càng làm cho việc chẩn đoán phân biệt bệnh trở nên khó khăn hơn.

Chẩn đoán sinh thiết nội soi của bệnh Crohn (CD) là vấn đề nan giải do thiếu các đặc điểm vi mô cụ thể và thông tin chắp vá.

Một nghiên cứu ở Singapore đã đánh giá các đặc điểm sinh thiết niêm mạc ban đầu của 25 trường hợp bệnh Crohn (CD), 3 ca lao ruột (ITB) và 2 trường hợp viêm đại tràng liên quan đến túi thừa [9]. Viêm mô hạt đã được quan sát thấy ở 10 trong 41 mẫu sinh thiết bệnh Crohn (CD), thẩy ở tất cả 5 mẫu sinh thiết lao ruột (ITB) và không thấy trên các mẫu sinh thiết của viêm đại tràng liên quan đến túi thừa. Viêm mô hạt nhỏ, chặt, xác định rõ đặc trưng cho bệnh Crohn (CD) hơn là dạng mô hạt viêm to liên kết với nhau ở bệnh lao ruột (ITB). Tế bào paneth và chuyển sản giả môn vị (pseudopyloric metaplasia) chỉ được thấy trên bệnh Crohn (CD) (2/25) [9]. Do độ nhạy thấp của các đặc điểm cụ thể liên quan đến sinh thiết nội soi, nên việc chẩn đoán chính xác hoàn toàn dựa trên cơ sở mô học sinh thiết là rất khó khăn.

Đến nay, vai trò của xét nghiệm IGRA trong việc phân biệt lao ruột (ITB) với bệnh Crohn (CD) ở Châu Á đã được công nhận.

Một đánh giá có hệ  thống với phân tích tổng hợp về tính chính xác của xét nghiệm IGRA ở Châu Á đã được công bố vào năm 2014 [6]. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm của các xét nghiệm bệnh lao T-SPOT. TB của 8 nghiên cứu tương ứng lần lượt là 81, 85, 78 và 87%.

Ở những nơi có tỷ lệ mắc lao tiềm ẩn (latent tuberculosis) cao như Việt Nam, trong đó nhiễm trùng lao tiềm ẩn lan rộng, kết quả xét nghiệm T-SPOT.TB dương tính có thể không nhất thiết phân biệt bệnh lao hoạt động với bệnh lao tiềm ẩn [10].

Cần thận trọng trong việc diễn giải kết quả xét nghiệm lao T-SPOT.TB khi dương tính. Tuy nhiên, trong những vùng dịch tễ lao như châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, kết quả T-SPOT.TB âm tính rất hữu ích để loại trừ bệnh lao ruột khi cần chẩn đoán phân biệt với bệnh Crohn (CD), được hỗ trợ bởi giá trị tiên đoán âm tính cao (94,2%) được báo cáo trong một nghiên cứu [11]. Số lượng trung bình hoặc thấp hơn của kết quả xét nghiệm IGRA có thể ít có ý nghĩa lâm sàng và trì hoãn chẩn đoán ra bệnh Crohn (CD).

Hiện nay tại Việt Nam, xét nghiệm IGRA hiện chỉ có tại Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tại TP. Hồ Chí Minh, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (120 Hồng Bàng, P12, Quận 5) và Trung Tâm Chẩn Đoán Y Khoa DIAG (146 An Bình, Phường 7, Quận 5) hiện đang có làm xét nghiệm IGRA. Tại Hà Nội, bệnh viện Nhiệt Đới Trung Ương (78 Giải Phóng, Q. Đống Đa, Hà Nội) có làm xét nghiệm IGRA cho bệnh nhân với giấy chỉ định từ bác sĩ.

Bảng 1. Các đặc điểm lâm sàng, nội soi, xét nghiệm, X quang và mô học của bệnh Crohn (CD) và bệnh lao ruột (ITB)

Xét nghiệm PCR cũng giúp phân biệt lao ruột ITB với bệnh Crohn CD bằng cách phát hiện ADN của vi khuẩn lao M. tuberculosis trong sinh thiết niêm mạc hoặc mẫu phân.

Độ nhạy và độ đặc hiệu được báo cáo của xét nghiệm lao TB-PCR sinh thiết niêm mạc tương ứng là 64,1 và 100% [12]. Tuy nhiên, có thể gặp phải các lỗi dương tính giả hoặc âm tính giả nếu mồi thử không đủ đặc hiệu hoặc số lượng mô có sẵn trong các mẫu sinh thiết niêm mạc không đủ.

Đã có báo cáo rằng AND của vi khuẩn lao M. tuberculosis cũng được phát hiện trên niêm mạc và phân của một số bệnh nhân Crohn (CD) do sự hiện diện của bệnh lao tiềm ẩn [13, 14]. Với các kết quả dễ gây nhầm lẫn từ các nghiên cứu đã đề cập ở trên, xét nghiệm PCR có thể có vai trò hạn chế trong chẩn đoán.

Chụp cắt lớp vi tính (CT) cũng có một vai trò nhất định trong phân biệt bệnh. Liên quan đến phân đoạn, dấu hiệu răng lược, thay đổi mô sợi mỡ, độ dày thành vừa phải và phân bố không đối xứng là phổ biến hơn đáng kể ở bệnh nhân bị bệnh Crohn (CD) so với những người mắc lao ruột (ITB) [15].

Bằng cách kết hợp chụp cắt lớp CT với kết quả nội soi, độ chính xác của chẩn đoán bệnh Crohn (CD) hoặc lao ruột (ITB) được tăng từ 66,7 đến 95,2% [16]. Ngoài ra, lao phổi hoạt động đồng thời được phát hiện bằng CT scan có thể tăng thêm giá trị cho chẩn đoán bệnh lao ruột (ITB).

Do đó, một số hệ thống tính điểm đã được phát triển để phân biệt hai bệnh này theo cách dễ hiểu hơn [17, 18].

Cho đến nay, không có hệ thống tính điểm nào hiện tại là thực tế và được xác nhận rộng rãi ở các khu vực dịch tễ lao. Sự phân biệt giữa bệnh Crohn (CD) và bệnh lao ruột (ITB) ở Châu Á và cụ thể ở Việt Nam là thách thức nhất vì những lý do nêu trên; một hệ thống tính điểm tiềm năng, toàn diện và có giá trị rộng rãi là rất cần thiết. Vì vậy, kiên thức chuyên môn sâu, cũng như kinh nghiệm điều trị các bệnh lý viêm ruột IBD của các bác sĩ, chuyên gia sẽ giúp cho việc chẩn đoán đúng và từ đó đưa ra được kế hoạch điều trị và kiểm soát bệnh hiệu quả.Các đặc điểm có giá trị trong phân biệt được liệt kê trong bảng 1.

Bệnh Behçet (BD)

Bệnh Behçet (BD) là một bệnh truyền nhiễm đa hệ thống mãn tính phổ biến nhất ở Đông Á và dọc theo lưu vực Địa Trung Hải, một khu vực được gọi là ‘Con đường tơ lụa.

Chẩn đoán của bệnh Behçet (BD) chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng theo tiêu chí của Nhóm nghiên cứu quốc tế (ISG), bao gồm rộp miệng tái phát (từ 3 lần trở lên trong 1năm) cộng với 2 trường hợp sau: mụn rộp sinh dục, tổn thương mắt, tổn thương da và / hoặc xét nghiệm lẩy da dương tính [19].

Bệnh Behçet (BD)  đường ruột được đặc trưng bởi các biểu hiện ở đường tiêu hóa, bao gồm, nhưng không giới hạn ở, đau bụng mãn tính, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hóa, loét niêm mạc và thủng ruột. Không có sự đồng thuận trên toàn thế giới để chẩn đoán bệnh Behçet (BD)  đường ruột. Trong một nghiên cứu trước đây, có tới 50% bệnh nhân bệnh Behçet (BD) đường ruột cần can thiệp phẫu thuật do thủng ruột, chảy máu đường tiêu hóa và hình thành lỗ rò [20].

Bảng 2. Các đặc điểm lâm sàng và nội soi của bệnh Crohn (CD) và bệnh Behcet (BD)

Bảng 2. Các đặc điểm lâm sàng và nội soi của bệnh Crohn (CD) và bệnh Behcet (BD)

Bệnh Behçet (BD) và bệnh Crohn (CD) đường ruột thường khởi phát khi trẻ, các triệu chứng tiêu hóa không đặc hiệu, các biểu hiện ngoài ruột tương tự, và là bệnh mạn tính, bùng phát mạnh và lại thuyên giảm.

Sự giống nhau của hai bệnh này và việc thiếu các tiêu chuẩn chẩn đoán đáng tin cậy làm cho việc chẩn đoán phân biệt càng trở nên khó khăn hơn.

Một nghiên cứu hồi cứu đã báo cáo rằng các biểu hiện toàn thân ngoài ruột và các đặc điểm nội soi đại tràng, như phân bố vết loét, kích thước và loại, đã giúp phân biệt bệnh Behçet (BD) đường ruột với bệnh Crohn CD [21].

Vết loét khu trú, biến dạng van hồi manh tràng, vết loét đơn lẻ, vết loét lớn (kích thước loét > 2 cm) và loét chu vi phổ biến hơn ở bệnh nhân Behçet (BD) đường ruột (Hình.1c) [21].

Một nghiên cứu của Hàn Quốc đã đề xuất một tiêu chí chẩn đoán mới và đơn giản trên cơ sở hai phương pháp: phát hiện nội soi và các biểu hiện ngoài ruột [22]. Điều này đã bổ sung các giá trị, đặc biệt ở những bệnh nhân bị loét hồi manh tràng không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán của Behçet (BD) toàn thân. Đây là một trong các nghiên cứu của Giáo Sư Byong Duk Ye, Trưởng Đơn vị Viêm Ruột (IBD) thuộc khoa Tiêu Hóa, Bệnh viện Asan Medical Center, Hàn Quốc.

Giáo sư Byong Duk Ye là một trong các chuyên gia nghiên cứu và điều trị viêm ruột IBD hàng đầu châu Á, GS. Ye là một trong số ít các chuyên gia tại châu Á nghiên cứu rất sâu về bệnh bệnh lý đường tiêu hóa dưới (viêm ruột), đơn vị IBD của ông tại bệnh viện Asan Medical Center hàng tháng có hơn 500 bệnh nhân từ khắp các thành phố ở Hàn Quốc cũng như từ các nước khác đến khám.

Giáo sư Byong Duk Ye đã đến giảng dạy và chia sẻ kinh nghiệm nhiều lần với các bác sĩ của bệnh viện Chợ Rẫy, ĐH Y Dược TP. HCM và tại nhiều hội nghị tiêu hóa ở Việt Nam. Trong lần giảng dạy tại bệnh viện Chợ Rẫy vào tháng 9, 2017, Giáo sư Byong Duk Ye chia sẻ rằng hơn 10 năm trước khi ông thành lập đơn vị IBD tại bệnh viện Asan Medical Center, mỗi tháng chỉ có vài bệnh nhân viêm ruột IBD mà thôi, lý do thật sự không phải vì có ít bệnh nhân viêm ruột IBD, mà vì rất nhiều bệnh nhân lúc đó chưa được chẩn đoán đúng bệnh, thành ra số liệu thống kê rất thấp. Cống hiến toàn thời gian cho việc nghiên cứu, điều trị và giảng dạy bệnh viêm ruột IBD, hiện tại đơn vị IBD tại bệnh viện Asan Medical Center không chỉ là nơi điều trị, nghiên cứu mà còn là một đơn vị đào tại các bệnh lý tiêu hóa uy tín và quy mô vào hàng lớn nhất châu Á.

Người ta tin rằng chẩn đoán sai về bệnh Behcet BD và bệnh Crohn CD thường mang lại ít tác hại hơn cho bệnh nhân. Chẩn đoán phân biệt đúng bệnh sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng lựa chọn các thuốc điều hòa miễn dịch thích hợp cho bệnh nhân. Ví dụ, thuốc ức chế miễn dịch đầu tay thường là cyclophosphamide cho bệnh nhân Behcet BD đường ruột cũng như azathioprine cho bệnh nhân bị bệnh Crohn CD.

Trong bảng 2, các đặc điểm lâm sàng và nội soi của bệnh Crohn CD và bệnh Behcet BD được liệt kê chi tiết.

Các bệnh nhiễm trùng đường ruột khác

Các bệnh nhiễm trùng đường ruột khác thường có biểu hiện khởi phát triệu chứng đột ngột, còn được gọi là viêm đại tràng tự giới hạn cấp tính.

Ở các khu vực đang phát triển và nông thôn ở châu Á, viêm đại tràng nhiễm trùng vẫn là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của tiêu chảy, có thể giống với viêm ruột IBD.

Viêm đại tràng có thể được gây ra bởi nhiễm trùng do vi khuẩn và ký sinh trùng, viêm ruột có thể do nhiễm trùng Yersinia và Salmonella, và loét hồi tràng có thể được thấy trong bệnh amip.

Các triệu chứng của nhiễm trùng cấp tính khởi phát đột ngột, sốt sớm và hơn 6 lần đi tiêu hàng ngày. Trong viêm ruột IBD, khởi phát triệu chứng là từ từ và sốt khi có bệnh, thường xảy ra sau đó trong quá trình bệnh.

Các triệu chứng và dấu hiệu ngoài ruột như bệnh khớp, triệu chứng ở mắt và da có thể xuất hiện với bệnh viêm đại tràng tự giới hạn cấp tính nhưng phổ biến hơn với IBD.

Điều Trị Bệnh Viêm Ruột (IBD) Ở Đâu Tốt?

Tỷ lệ mắc IBD đã tăng lên trong 2 thập kỷ qua ở châu Á nói chung và Việt Nam có lẽ cũng không là một ngoại lệ và nó được cho là sẽ tiếp tục tăng trong thập kỷ tới.

Với tỷ lệ cao của viêm đại tràng nhiễm trùng, lao và bệnh Behcet (BD) ở châu Á, sự chẩn đoán phân biệt kỹ lưỡng luôn luôn cần thiết trước khi đưa ra kế hoạch điều trị cho nhóm bệnh viêm ruột (IBD). Để điều trị đúng thì bệnh cần được chẩn đoán đúng.

Hướng tiếp cận liên chuyên khoa (bao gồm khoa tiêu hóa, nội soi, giải phẫu bệnh, dinh dưỡng), hướng dẫn quốc gia, đào tạo liên tục, cũng như các hoạt động nghiên cứu sâu về bệnh có thể giúp thu hẹp khoảng cách về khả năng chẩn đoán giữa các trung tâm ở châu Á.

Bệnh viện Asan Medical Center, Hàn Quốc

Trong các bệnh viện đối tác của Medifly, Giáo sư Byong Duk Ye, trưởng đơn vị IBD tại bệnh viện Asan Medical Center là một trong các đơn vị hàng đầu châu Á trong chẩn đoán và điều trị viêm ruột IBD.

Giáo sư, Bác sĩ Yong Duk Ye, bệnh viện Asan Medical Center, Hàn Quốc

Giáo sư, Bác sĩ Yong Duk Ye, bệnh viện Asan Medical Center, Hàn Quốc

HOPE Gastroenterology and Liver Clinic, Singapore

Tiến sĩ Bác sĩ Thia Teck Joo, Kelvin, MD, PhD, FAMS (Gastroenterology) MCI (NUS), HOPE Gastroenterology and Liver Clinic, Singapore cũng là một trong các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và điều trị IBD tại Singapore.

Tiến sĩ Bác sĩ Thia Teck Joo, Kelvin, MD, PhD, FAMS (Gastroenterology) MCI (NUS), HOPE Gastroenterology and Liver Clinic, Singapore

Tiến sĩ Bác sĩ Thia Teck Joo, Kelvin, MD, PhD, FAMS (Gastroenterology) MCI (NUS), HOPE Gastroenterology and Liver Clinic, Singapore

Tham khảo

1. Yang SK, Yun S, Kim JH, et al: Epidemiology of inflammatory bowel disease in the Songpa-Kangdong district, Seoul, Korea, 1986–2005: a KASID study. Inflamm Bowel Dis 2008; 14:542–549.

2. Yang H, Li Y, Wu W, et al: The incidence of inflammatory bowel disease in Northern Chi-na: a prospective population-based study. PLoS One 2014; 9:e101296.

3. Zhao J, Ng SC, Lei Y, et al: First prospective, population-based inflammatory bowel dis-ease incidence study in mainland of China: the emergence of ‘western’ disease. Inflamm Bowel Dis 2013; 19: 1839–1845.

4. Zeng Z, Zhu Z, Yang Y, et al: Incidence and clinical characteristics of inflammatory bowel disease in a developed region of Guangdong Province, China: a prospective population-based study. J Gastroenterol Hepatol 2013; 28: 1148–1153.

5. Ng SC, Tang W, Ching JY, et al: Incidence and phenotype of inflammatory bowel disease based on results from the Asia-Pacific Crohn’s and Colitis Epidemiology Study. Gastroenterology 2013; 145: 158–165.

6. Ng SC, Hirai HW, Tsoi KKF, et al: Systematic review with meta-analysis: accuracy of inter-feron-gamma releasing assay and anti-Sac-charomyces cerevisiae antibody in differenti-ating intestinal tuberculosis from Crohn’s disease in Asians. J Gastroenterol Hepatol 2014; 29: 1664–1670.

7. Lee YJ, Yang SK, Byeon JS, Myung SJ, Chang HS, Hong SS, Kim KJ, Lee GH, Jung HY, Hong WS, Kim JH, Min YI, Chang SJ, Yu CS: Analysis of colonoscopic findings in the dif-ferential diagnosis between intestinal tuber-culosis and Crohn’s disease. Endoscopy 2006; 38: 592–597.

8. Li X, Liu X, Zou Y, Ouyang C, Wu X, Zhou M, et al: Predictors of clinical and endoscopic findings in differentiating Crohn’s disease from intestinal tuberculosis. Dig Dis Sci 2011; 56: 188–196.

9. Kumarasinghe MP, Quek TP, Chau CY, Mu-stapha NR, Luman W, Ooi CJ: Endoscopic biopsy features and diagnostic challenges of adult Crohn’s disease at initial presentation. Pathology 2010; 42: 131–137.

10. Chee CB, Barkham TM, KhinMar KW, et al: Quantitative T-cell interferon-gamma re-sponses to Mycobacterium tuberculosis-specific antigens in active and latent tuberculosis. Eur J Clin Microbiol Infect Dis 2009; 28: 667–670.

11. Li Y, Zhang LF, Liu XQ, Wang L, Wang X, et al: The role of in vitro interferonγ-release as-say in differentiating intestinal tuberculosis from Crohn’s disease in China. J Crohns Coli-tis 2012; 6: 317–323.

12. Gan HT, Chen YQ, Ouyang Q, Bu H, Yang XY: Differentiation between intestinal tuber-culosis and Crohn’s disease in endoscopic biopsy specimens by polymerase chain reac-tion. Am J Gastroenterol 2002; 97: 1446–1451.

13. Pulimood AB, Peter S, Rook GWA, Dono-ghue HD: In situ PCR for Mycobacterium tu-berculosis in endoscopic mucosal biopsy spec-imens of intestinal tuberculosis and Crohn disease. Am J Clin Pathol 2008; 129: 846–851.

14. Ramadass B, Chittaranjan S, Subramanian V, Ramakrishna BS: Fecal polymerase chain re-action for Mycobacterium tuberculosis IS6110 to distinguish Crohn’s disease from intestinal tuberculosis. Indian J Gastroenterol 2010; 29: 152–156.

15. Park YH, Chung WS, Lim JS, Park SJ, Cheon JH, Kim TI, Kim WH, Hong SP: Diagnostic role of computed tomographic enterography differentiating Crohn disease from intestinal tuberculosis. J Comput Assist Tomogr 2013; 37: 834–839.

16. Mao R, Liao WD, He Y, Ouyang CH, Zhu ZH, Yu C, Long SH, Chen YJ, Li ZP, Wu XP, Lv NH, Hu P, Chen M: Computed tomographic enterography adds value to colonoscopy in differentiating Crohn’s disease from intesti-nal tuberculosis: a potential diagnostic algo-rithm. Endoscopy 2015; 47: 322–329.

17. Makharia GK, Srivastava S, Das P, Goswami P, Singh U, Tripathi M, Deo V, Aggarwal A, Ti-wari RP, Sreenivas V, Gupta SD: Clinical, endo-scopic, and histological differentiations be-tween Crohn’s disease and intestinal tuberculo-sis. Am J Gastroenterol 2010; 105: 642–651.

18. Huang X, Liao WD, Yu C, Tu Y, Pan XL, Chen YX, Lv NH, Zhu X: Differences in clinical fea-tures of Crohn’s disease and intestinal tuber-culosis. World J Gastroenterol 2015; 21: 3650– 3656.

19. Criteria for diagnosis of Behçet’s disease. In-ternational Study Group for Behçet’s Disease. Lancet 1990; 335: 1078.

20. Moon CM, Cheon JH, Shin JK, Jeon SM, Bok HG, Lee JH, et al: Prediction of free bowel per-foration in patients with intestinal Behçet’s disease using clinical and colonoscopic find-ings. Dig Dis Sci 2010; 55: 2904–2911.

21. Li J, Li P, Bai J, Lyu H, Li Y, Yang H, Shen B, Qian JM: Discriminating potential of extrain-testinal systemic manifestations and colono-scopic features in Chinese patients with intestinal Behçet’s disease and Crohn’s disease. Chin Med J (Engl) 2015; 128: 233–238.

22. Cheon JH, Kim ES, Shin SJ, Kim TI, Lee KM, Kim SW, Kim JS, Kim YS, Choi CH, Ye BD, Yang SK, Choi EH, Kim WH: Development and validation of novel diagnostic criteria for intestinal Behçet’s disease in Korean patients with ileocolonic ulcers. Am J Gastroenterol 2009; 104: 2492–2499.

23. Surawicz CM, Haggitt RC, Hussemann M, McFarland LV: Mucosal biopsy diagnosis of colitis: acute self-limited colitis and acute idi-opathic inflammatory bowel disease. Gastro-enterology 1994; 107: 755–763.

24. Cao J, Liu WJ, Xu XY, Zou XP: Endoscopic findings and clinicopathologic characteristics of colonic schistosomiasis: a report of 46 cas-es. World J Gastroenterol 2010; 16: 723–727.

25. Singh R, Balekuduru A, Simon EG, Alexander M, Pulimood A: The differentiation of amebic colitis from inflammatory bowel disease on endoscopic mucosal biopsies. Indian J Pathol Microbiol 2015; 58: 427–432.

26. Ma JY, Tong JL, Ran ZH: Intestinal tuberculosis and Crohn’s disease: challenging differential diagnosis. J Dig Dis 2016; 17: 155–161.

CÁC BỆNH VIỆN CHUYÊN ĐIỀU TRỊ
BỆNH TIÊU HÓA

Xem thêm