Ghép tạng & Liệu pháp tế bào, Ung Bướu: Ung Thư

Ghép gan sống được bao lâu? Ghép gan chi phí hết bao nhiêu và ở đâu tốt nhất?

Medifly-ghep-gan-ung-thu-gan

Ghép gan là phẫu thuật để loại bỏ gan bị bệnh và thay thế bằng gan khỏe mạnh (hoặc một phần của gan) từ người hiến. Bệnh nhân bị bệnh gan giai đoạn cuối đã thất bại trong điều trị nội khoa và phẫu thuật thông thường sẽ được xem xét để ghép gan. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan giai đoạn cuối bao gồm vàng da (vàng mắt và da), phân màu xám hoặc sệt như đất sét, cổ trướng (chất lỏng dư thừa trong bụng), phù, chảy máu do giãn tĩnh mạch (nôn ra máu), số lượng tiểu cầu thấp, mệt mỏi, và làm rối loạn tâm lý.

1. Người ghép gan sống được bao lâu sau ghép?

Theo nghiên cứu thống kê trên 4,000 ca ghép gan tại Trung Tâm Ghép Gan, Đại Học Pittsburgh, Hoa Kỳ từ năm 1981-1998, có 48% số người ghép gan sống đến 18 năm, thời gian sống sau ghép sẽ cao hơn ở trẻ em, phụ nữ và những ca ghép sau năm 1990 [1].

Theo một nghiên cứu khác trên 500 ca ghép gan tại Singapore (365 người lớn, 135 trẻ em), tỉ lệ bệnh nhân sống sau 5 năm là 78.6% (393 bệnh nhân trong số 500 ca ghép sống trên 5 năm) [2].

Trung tâm Asian American Liver Centre Singapore, đứng đầu là Bác sĩ Kai Chah Tan, công bố tỉ lệ bệnh nhân sau ghép gan sống trên 5 năm ở nhóm không do nguyên nhân ung thư là 78% và do nguyên nhân ung thư là 56% [3].

Tại trung tâm ghép gan lớn nhất Đài Loan, bệnh viện Chang Gung Memorial Hospital, nghiên cứu trên 800 ca ghép gan từ năm 2003-2012, tỉ lệ bệnh nhân sống trên 3 năm là 91% (728 bệnh nhân trong số 800 ca ghép sống trên 3 năm) [4]. Tỉ lệ bệnh nhân sống trên 3 năm sau ghép gan của bệnh viện Chang Gung Memorial Hospital Đài Loan thuộc nhóm cao nhất thế giới, tương đương Hoa Kỳ. Tính đến tháng 10/2018, bệnh viện Chang Gung Memorial Hospital đã thực hiện 1,800 ca ghép gan từ 1,570 người hiến sống cho bệnh nhân đến từ Châu Âu, Mỹ, Nhật và người dân Đài Loan. Đây cũng là 1 trong 4 trung tâm đào tạo ghép gan, nghiên cứu khoa học về gan mật hàng đầu thế giới.

Trung Tâm ghép gan Apollo, Ấn Độ, đã thực hiện 3,300 ca ghép gan (2,987 ca người lớn, 313 ca trẻ em) tính đến hết năm 2018, đây cũng là nơi có chi phí ghép gan thấp nhất hiện nay, chính vì vậy đã thu hút rất nhiều bệnh nhân có nhu cầu, kể cả từ Mỹ, châu Âu và các nước Đông Nam Á. Tại Medanta, tỉ lệ phẫu thuật ghép gan thành công 86%, tỉ lệ bệnh nhân sau ghép sống trên 5 năm là 83% ở người lớn và 91% ở trẻ em. Tỉ lệ sống sau 5 năm này là tương đương với tỉ lệ của Asan Medical Center (Hàn Quốc) và Mayo Clinic (Mỹ) [5].

Kể từ ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam (2004), tính đến tháng 2/2017 cả nước đã có 66 ca ghép gan (theo vnexpress ngày 18/2/2018). Trong số 66 ca đã thực hiện, có 3 trường hợp tử vong vì thải ghép cấp, chảy máu nặng. 11 trường hợp biến chứng sớm sau ghép. Hiện có 5 người đã sống trên 10 năm. “Dù bác sĩ Việt đã làm chủ được các kỹ thuật ghép gan tiên tiến trên thế giới nhưng vẫn còn một số hạn chế trong quá trình chăm sóc hậu phẫu, điều trị sau ghép”, Giáo Sư Bác Sĩ Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội ghép tạng Việt Nam cho biết tiến trình ghép gan tại Việt Nam đi sau thế giới 40 năm, sau các nước trong khu vực khoảng 20 năm, nhưng cũng đã từng bước tiếp cận các kỹ thuật hiện đại ở các nước tiên tiến.

Asan Medical Center (Hàn Quốc) là nơi đã đào tạo và chuyển giao công nghệ ghép gan cho bênh viện Chợ Rẫy, và hiện nay cũng đang giúp đào tạo cho bệnh viện ĐH Y Dược Tp. HCM, ca ghép gan đầu tiên tại bệnh viện ĐH Y Dược Tp. HCM ngày 16/6/2018 đã được thực hiện thành công với sự hỗ trợ đắc lực từ đoàn chuyên gia đến từ Asan Medical Center.

2. Ghép gan chi phí hết bao nhiêu tiền?

Ngoài việc có được nguồn gan cho phù hợp, thì chi phí ghép gan cũng là một vấn đề tài chính gian nan cho nhiều gia đình và người thân, ngoài chi phí trực tiếp cho cuộc phẫu thuật, còn có các loại thuốc chống thải ghép mà người bệnh phải dùng lâu dài, thông tin chi tiết bên dưới sẽ hữu ích cho bệnh nhân và người nhà khi cần tham khảo.

Những con số này được thu thập từ 7 bệnh viện (Nhi Đồng 2, Chợ Rẫy, ĐH Y Dược Tp. HCM, Apollo Ấn Độ, Asian American Centre Singapore, Asan Medical Center Hàn Quốc và Changung Memorial Đài Loan) vào thời điểm tháng 3/2019. Chi phí cho một ca ghép gan, phẫu thuật cho người hiến và người nhận, tiền viện phí và các loại thuốc liên quan, ước tính nằm trong khoảng như sau:

  • Bệnh viện Nhi Đồng 2: từ 1 tỉ 200 triệu – 1 tỉ 500 triệu đồng

  • Bệnh viện Chợ Rẫy: từ 1 tỉ đến 1 tỉ 500 triệu đồng

  • Bệnh viện ĐH Y Dược TP. HCM: 1 tỉ 500 triệu – trên 2 tỉ đồng

  • Bệnh viện Apollo (Ấn Độ): từ 825 triệu (ghép gan cho người lớn) và 766 triệu đồng (ghép gan cho trẻ em)

  • Bệnh viện Asian American Liver Centre (Singapore): từ 3 tỉ 300 triệu – 4 tỉ 800 triệu đồng

  • Bệnh viện Asan Medical Center (Hàn Quốc): từ 3 tỉ 500 triệu – 3 tỉ 700 triệu (nếu chỉ 1 người hiến gan) và từ 5 tỉ 100 triệu – 5 tỉ 300 triệu đồng (nếu gồm 2 người hiến gan)

  • Bệnh viện Changung Memorial Đài Loan: từ 1 tỉ 900 triệu – 2 tỉ 625 triệu đồng

STT
Bệnh Viện
Khu vực
Chi phí từ (VND)
Chi phí đến (VND)
1
Nhi Đồng 2
Tp. HCM
1,200,000,000
1,500,000,000
2
Chợ Rẫy
Tp. HCM
1,000,000,000
1,500,000,000
3
ĐH Y Dược
Tp. HCM
1,500,000,000
2,000,000,000
4
Apollo
Ấn Độ
766,000,000
825,000,000
5
Changung Memorial
Đài Loan
1,900,000,000
2,625,000,000
6
Asian American Liver Centre
Singapore
3,500,000,000
4,800,000,000
7
Asan Medical Center
Hàn Quốc
3,500,000,000
5,300,000,000

3. Ghép gan ở đâu tốt nhất trong số 7 bệnh viện này?

Từ khi phẫu thuật ghép gan ra đời, phát triển và tồn tại cho đến ngày nay đã trải qua rất nhiều chông gai. Không những thế, quy trình ghép gan từ lúc bệnh nhân nhập viện cho đến lúc nhận định mảnh ghép có thể sống được yên bình trong cơ thể mới cũng hết sức phức tạp, gian truân và nhiều thử thách.

Ghép gan không chỉ đơn thuần là một phương pháp phẫu thuật mà đó là sự phối hợp của tập thể các chuyên gia y tế thuộc nhiều chuyên ngành, phối hợp đồng bộ, nhuần nhuyễn và tay nghề rất cao, được đào tạo bài bản: phẫu thuật, gây mê hồi sức, miễn dịch, giải phẫu bệnh…

Thành công của một trường hợp ghép gan là công sức của một đội ngũ chuyên gia làm việc kiên trì, phối hợp chặt chẽ, có chuyên môn cao và hoạt động đồng bộ. Do đó, để lựa chọn một nơi ghép gan cho người thân trong gia đình, có khá nhiều yếu tố chúng ta cần cân nhắc:

  • Khả năng tài chính, tham khảo về chi phí ghép gan
  • Một bệnh viện giàu kinh nghiệm, uy tín đã từng ghép nhiều ca, vì sẽ liên quan đến khả năng kiểm soát các ca khó, xử lý các tai biến, biến chứng nếu có xảy ra.

Sẽ không có nơi nào là tốt nhất mà còn phụ thuộc vào tình trạng bệnh và mong muốn của bệnh nhân, điều kiện của gia đình, sự phù hợp cho từng hoàn cảnh, điều kiện là yếu tố quyết định.

Bên dưới là thống kê sơ bộ để chúng ta tham khảo về số ca ghép gan đã được thực hiện tại một số bệnh viện:

STT
Bệnh Viện
Khu vực
Từ năm
Đến năm
Tổng số ca ghép gan
1
Nhi Đồng 2
Tp. HCM
2005
2018
12
2
Chợ Rẫy
Tp. HCM
2012
2017
11
3
ĐH Y Dược
Tp. HCM
2018
3/2019
1
4
Apollo
Ấn Độ
1998
2018
3,300
5
Changung Memorial
Đài Loan
1984
2018
1,800
6
Asian American Liver Centre
Singapore
2002
2018
250
7
Asan Medical Center
Hàn Quốc
1994
2018
5,000

4. Các biến chứng sau ghép gan có thể xảy ra

Bất kì một phương pháp phẫu thuật nào cũng tiềm ẩn những tai biến, biến chứng. Ghép gan là một phẫu thuật lớn và phức tạp, một trung tâm ghép gan nhiều kinh nghiệm với các chuyên gia phẫu thuật giỏi sẽ kiểm soát cuộc mổ và xử lý được các tình huống tai biến khó tốt hơn.

Các biến chứng thường gặp ở bệnh nhân sau ghép gan bao gồm:

  1. Gan ghép mất chức năng hoặc kém chức năng: tỉ lệ khoảng 1-5%, một số trường hợp cần phải ghép gan lần 2 để cứu bệnh nhân
  2. Huyết khối, thuyên tắc xuất hiện ở động mạch gan hoặc tĩnh mạch cửa
  3. Rò mật hoặc hẹp đường mật
  4. Chảy máu sau mổ
  5. Nhiễm trùng sau mổ

Ngoài các biến chứng có thể gặp phải nêu trên còn có thể gặp các vấn đề khác.

  • Đau vùng bụng: đau vết mổ và vùng mổ bên trong.
  • Chậm nhu động ruột: bụng chướng, đầy hơi, chậm trung tiện.
  • Có thể gặp tràn dịch màng phổi phải phản ứng. Tràn dịch ổ bụng do báng hoặc rò mật sau mổ.
  • Vấn đề thải ghép

Thải ghép là gì?

Cơ thể chúng ta có những tế bào miễn dịch đóng vai trò bảo vệ cơ thể. Một trong những chức năng bảo vệ đó là phát hiện và tấn công lại những tác nhân lạ xâm nhập từ bên ngoài vào cơ thể (vi khuẩn, virus…).

Một cơ quan khi được cấy ghép vào cơ thể, sẽ bị các tế bào miễn dịch này phát hiện và tấn công phá hủy làm cho gan mới ghép bị tổn thương và mất chức năng, gọi là hiện tượng thải ghép.

Khi nghi ngờ thải ghép, sinh thiết gan là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định. Thải ghép cấp thường xảy ra trong năm đầu tiên sau ghép với giai đoạn đỉnh cao là 4-6 tuần đầu sau ghép.

Thải ghép mạn chiếm tỉ lệ ít hơn với yếu tố nguy cơ là sự lặp đi lặp lại của các đợt thải ghép cấp. Vai trò và kinh nghiệm của bác sĩ giải phẫu bệnh là hết sức cần thiết trong giai đoạn này để đánh giá đầy đủ và chính xác tình trạng hiện tại của mảnh ghép.

Làm sao để khắc phục tình trạng thải ghép?

Người cho và người nhận gan có sự tương hợp càng cao thì càng tốt. Do đó, nếu người cho gan và người nhận có quan hệ huyết thống gần là tốt nhất (cha mẹ, con ruột, anh chị em ruột, họ hàng gần), và nếu có chung nhóm máu HLA thì tính tương hợp càng cao.

Sử dụng các thuốc chống thải ghép: là các thuốc ức chế hoạt động của các tế bào miễn dịch trong cơ thể (thuốc ức chế miễn dịch), do đó tránh được hiện tượng thải ghép.

Sử dụng thuốc ức chế miễn dịch để chống thải ghép:

Dùng các thuốc ức chế miễn dịch với mục đích làm suy yếu hệ thống miễn dịch của người nhận gan ghép, giúp cho mảnh ghép “sống sót” trong môi trường mới là cần thiết.

Các thuốc sau đây thường được phối hợp sử dụng: corticoids, nhóm ức chế calcineurin (cyclosporine, tacrolimus), mycophenolate mofetil, nhóm ức chế mTOR (sirolimus, everolimus), nhóm thuốc basiliximab, daclizumab, nhóm diệt tế bào T khỏi hệ tuần hoàn (thymoglobulin, OKT3).

Ở các trung tâm lớn trên thế giới, bên cạnh đội ngũ phẫu thuật viên, mỗi một trường hợp ghép gan sẽ được hội chẩn bởi các chuyên gia miễn dịch chuyên về ghép tạng để đánh giá và đưa ra một phác đồ dùng thuốc phù hợp cho mỗi bệnh nhân.

Tại Việt Nam, một số thuốc này đã nằm trong danh mục được bảo hiểm y tế chi trả, tham khảo danh mục thuốc bảo hiểm y tế mới nhất năm 2019.

Tái phát bệnh gan (bệnh gan đã có trước ghép)

Hiện nay đã có nhiều loại thuốc và các phác đồ điều trị nhằm ngăn ngừa tình trạng tái nhiễm siêu vi ở mảnh ghép gan mới với kết quả khá thuyết phục ở bệnh nhân mắc viêm gan siêu vi B.

Nhưng vấn đề tái nhiễm ở bệnh nhân viêm gan siêu vi C vẫn còn nan giải. Những bệnh nhân mang virus viêm gan siêu vi C trong máu sẽ tiếp tục nhiễm virus này sau ghép gan. Khác với việc tái nhiễm viêm gan siêu B thường làm suy gan diễn ra nhanh chóng, việc tái nhiễm viêm gan siêu vi C ảnh hưởng đến chức năng gan chậm hơn và chỉ khoảng 5% bệnh nhân diễn tiến đến xơ gan và bệnh gan giai đoạn cuối trong vòng 2 năm sau ghép gan.

Ở các bệnh lý gan khác, tỉ lệ tái phát viêm đường mật xơ hóa nguyên phát và xơ gan ứ mật nguyên phát là 10-20% và rất hiếm diễn tiến đến xơ gan hay bệnh gan giai đoạn cuối.

Các bệnh nhân ung thư gan được phẫu thuật ghép gan vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái phát ung thư gan trên nền gan ghép, do đó người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ theo dõi để đạt được kết quả tốt nhất.

Nhiễm trùng cơ hội và ung thư

Vai trò chính yếu của hệ thống miễn dịch là xác định và tấn công các tác nhân bên ngoài xâm nhập, hoặc được đưa vào cơ thể (virus, vi khuẩn, nấm, các cơ quan ghép…).

Khi sử dụng thuốc ức chế miễn dịch sau ghép gan để chống thải ghép sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm trùng cơ hội phát triển.

Hệ miễn dịch cũng có chức năng chiến đấu loại trừ các tế bào ung thư, nên bệnh nhân sau ghép gan, dùng thuốc ức chế miễn dịch sẽ có nguy cơ mắc một số loại ung thư cao hơn người thường.

Rối loạn tăng sinh lympho sau ghép gan

Rối loạn tăng sinh lympho sau ghép gan là một dạng ung thư hiếm gặp, xảy ra ở các bệnh nhân sau ghép. Tác nhân gây bệnh là Epstein-Barr virus (EBV). Phần lớn người trưởng thành đều đã từng tiếp xúc với EBV trong thời thơ ấu hoặc giai đoạn thanh thiếu thiếu niên nhưng không có biểu hiện vì hệ miễn dịch đủ sức để ức chế chúng.

Tuy nhiên, ở các bệnh nhân sau ghép gan có sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, EBV tái hoạt động trở lại và gây nên tình trạng trên.

Nhưng hiện hay đã có các loại thuốc sinh học (như rituximab) có thể chế ngự được EBV, do đó đây không còn là vấn đề đáng lo.

Ung thư da không melanoma

Ung thư da là tổn thương ác tính thường gặp nhất ở bệnh nhân sau ghép tạng với tỉ lệ là 27% sau 10 năm. Chính vì vậy mà nhiều khuyến cáo khuyên các bệnh nhân sau ghép hạn chế tối đa việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và phải thường xuyên đi kiểm tra da.

Hy vọng rằng trong tương lai gần, thành tựu về ghép gan ở Việt Nam sẽ ngày càng vươn xa để các bệnh nhân mắc bệnh gan giai đoạn cuối có thêm cơ hội sống một cuộc đời mới.

5. Ghép gan từ người hiến gan sống: liệu có an toàn cho người hiến?

Gan là cơ quan có khối lượng lớn nhất của cơ thể. Trong gan có hàng tỉ tế bào gan, khi một số tế bào gan bị tổn thương thì những tế bào gan bình thường còn lại vẫn hoạt động, nên vẫn đảm bảo chức năng của cả cơ thể. Do đó, người bị bệnh gan ít triệu chứng (mặc dù gan đã và đang bị tổn thương âm ỉ trong nhiều năm).

Nếu một người có chức năng gan còn tốt, thể tích gan tối đa có thể cắt đi là 75%. Những tế bào gan còn lại (nếu khỏe mạnh, và được cung cấp đủ dinh dưỡng, cũng như không bị tác nhân bệnh lý khác tấn công) thì sẽ tích cực tái tạo trở lại, và sau khoảng 3 tháng thì gan sẽ to trở lại như kích thước ban đầu.

Qua đó sẽ thấy gan là cơ quan có chức năng bù trừ rất tốt. Một người có lá gan khỏe mạnh có thể cho đi / hiến tặng một phần lá gan của mình để cứu chữa bệnh gan cho 1 người khác mà không ảnh hưởng đến sức khỏe người cho gan, bởi vì sau một thời gian, thể tích lá gan của người cho sẽ to trở lại như ban đầu.

Với tỷ lệ mắc bệnh gan cao ở châu Á, nhu cầu ghép gan ngày càng tăng đối với bệnh nhân mắc bệnh gan giai đoạn cuối. Toàn thế giới đang thiếu hụt nguồn hiến gan từ người đã qua đời và thậm chí những người được hiến cũng chỉ ưu tiên trong phạm vi công dân của quốc gia đó. Do đó, nếu ghép gan đã được bác sĩ khuyên làm, bạn nên cân nhắc ghép gan từ người hiến còn sống càng sớm càng tốt.

6. Lời khuyên cho người hiến gan:

  • Bạn đang cứu một bệnh nhân bằng cách hiến một phần gan của bạn và đây là một việc làm mang tính nhân văn.
  • Hiến gan là tự nguyện và không nên cảm thấy bị ép buộc.
  • Không có gì là quá muộn để thay đổi suy nghĩ của bạn ngay cả khi bạn đã trải qua toàn bộ quá trình đánh giá, xét nghiệm, hãy cân nhắc kỹ.
  • Nguy cơ tử vong do phẫu thuật cắt bỏ một phần gan của bạn rất thấp, được ước tính là 0,3% đến 0,5% hoặc 3 đến 5 trong 1000 lần hiến gan. Rủi ro sẽ cao hơn nếu thực hiện tại một trung tâm ít kinh nghiệm.
  • Nguy cơ nhiễm trùng vết thương và các biến chứng nhỏ khác là khoảng 15%.
  • Có sẹo tại vùng bụng sau phẫu thuật. Túi mật của bạn được loại bỏ như một phần của thủ thuật mà không gây ra bất kỳ hậu quả lâu dài nào.
  • Bạn có thể sống một lối sống bình thường và không phải dùng bất kỳ loại thuốc dài hạn nào. Bạn có thể sinh con bình thường sau khi hiến gan. Hiến một phần gan của bạn không làm giảm tuổi thọ của bạn và không làm tăng nguy cơ gây ra bệnh gan hoặc suy gan.
  • Bạn sẽ được nhập viện một ngày trước khi phẫu thuật và thường phải nằm viện trong một tuần.
  • Bạn sẽ được theo dõi sức khỏe tại phòng khám ghép gan hàng tuần trong 2 tuần sau khi xuất viện và có thể trở về nhà nếu kết quả xét nghiệm máu và siêu âm gan của bạn đạt yêu cầu.
  • Bạn nên lặp lại xét nghiệm máu 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau khi xuất viện.

7. Ghép gan từ người cho gan còn sống

Ghép gan từ người hiến còn sống có một số lợi thế so với ghép gan từ người hiến đã qua đời, bao gồm:

  • Hồi phục sớm và tốt hơn.
  • Phẫu thuật có thể được lên kế hoạch trong thời gian cả người nhận và người hiến đều ở trong tình trạng tốt nhất để phẫu thuật. Tình trạng của bệnh nhân trước khi phẫu thuật dự đoán được thời gian phục hồi
  • Ít khả năng bị biến chứng và tử vong trong khi chờ đợi.
  • Gan từ một người hiến tặng còn sống có thể có chất lượng tốt hơn vì nó được lấy ra từ một người khỏe mạnh. Những người có khả năng hiến tặng gan phải trải qua nhiều xét nghiệm để loại trừ bệnh tật và các tình trạng bất thường.

8. Một số tiêu chuẩn của người hiến gan

  • Nên trên 21 tuổi và dưới 55 tuổi
  • Cùng nhóm máu hoặc mang nhóm máu O
  • Người hiến tặng lý tưởng nên cùng gia đình với người nhận (thành viên gia đình cùng huyết thống)
  • Không nên có các bệnh lý nghiêm trọng
  • Viêm gan B và C và HIV âm tính
  • Thể tích gan đầy đủ và cấu trúc giải phẫu gan phù hợp
  • Gan nhiễm mỡ nhiều sẽ là một chống chỉ định.

Người hiến gan sẽ được bác sĩ đánh giá về khả năng tương thích để phẫu thuật. Đánh giá tâm lý cũng được yêu cầu để đảm bảo rằng người hiến tặng được chuẩn bị tinh thần cho việc phẫu thuật và hiểu được ý nghĩa của phẫu thuật này. Công việc bao gồm:

  • Xét nghiệm công thức máu toàn bộ
  • Xét nghiệm HLA đánh giá độ tương thích giữa người cho và người nhận gan
  • X-quang ngực và ECG (điện tâm đồ)
  • Chụp CT scan gan
  • Tham khảo ý kiến bác sĩ phẫu thuật
  • Đánh giá chức năng hô hấp
  • Đánh giá chức năng tim
  • Đánh giá tâm lý
  • Đánh giá pháp lý (luật sư, đánh giá bởi điều phối viên và Hội Đồng Y Đức)

Quá trình đánh giá được thiết kế để chứng minh rằng bạn thực sự có một lá gan khỏe mạnh bình thường và nó sẽ an toàn cho bạn khi hiến tặng. Một quy trình làm việc chi tiết sẽ giúp xác định bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào và cũng giúp các bác sĩ phẫu thuật quyết định kỹ thuật của họ cho quá trình phẫu thuật cho bệnh nhân.

Cần có sự cho phép của Hội Đồng Y Đức bệnh viện (HĐYĐBV) trước khi có bất kỳ ca ghép tạng của người hiến tặng còn sống nào được tiến hành. HĐYĐBV phải đồng ý rằng hai mối quan tâm chính về chuyên môn và đạo đức được giải quyết thỏa đáng. Đầu tiên, người hiến gan phải tìm hiểu kỹ về bản chất và hậu quả của các phẫu thuật và xác nhận đồng ý với đầy đủ thông tin của mình. Thứ hai, không được có bất kỳ hình thức ép buộc hay xúi giục tài chính nào để hiến tạng. Điều này áp dụng cho tất cả các ca ghép tạng của người hiến tặng còn sống, bất kể người cho và người nhận có liên quan họ hàng gia đình hay không.

** Thông tin mang tính tham khảo, không phải là lời khuyên điều trị.

Tham khảo:

[1] Jain A, Reyes J, Kashyap R, et al. Long-term survival after liver transplantation in 4,000 consecutive patients at a single center. Ann Surg. 2000;232(4):490-500.

[2] Lessons Learned From Review of a Single Center Experience With 500 Consecutive Liver Transplants in a Region With Insufficient Deceased-Donor Support. – PubMed – NCBI

[3] 1 – OPTN/SRTR 2014 Annual Data Report Liver; OPTN – US Dept of Health and Human Services, Organ Procurement and Transplantation Network

[4] Pillai VG, Chen CL. Living donor liver transplantation in Taiwan-challenges beyond surgery. Hepatobiliary Surg Nutr. 2016;5(2):145-50.

[5] http://www.mamcjms.in/article.asp?issn=2394-7438;year=2016;volume=2;issue=1;spage=6;epage=11;aulast=Soin

Xem thêm